1. Sự thống nhất giữa quá
trình sản xuất ra giá trị sử dụng và quá trình sản xuất ra giá
trị thặng dư
- Qua trình nhà tư bản tiêu dùng hàng hóa sức lao động và tư
liệu sản xuất ra giá trị thặng dư có hai đặ điểm:
+ Một là, công nhân làm việc dưới sự kiểm soát của nhà TB
+Hai là, sản phẩm làm ra thuộc tính sở hữu nhà tư bản.
Ví dụ:
- Gỉa sử, đẻ chế tạo ra 10
kg sợi, nhà tư bản phải ứng ra số tiền 10$ để mua 10kg bông, 2$ cho hao
mòn máy móc và 3$ mua sức lao động của công nhân điều khiển máy móc
trong một ngày ( 12 giờ ); cuối cùng giả định trong quá trình sản
xuất sợi đã hao phí theo thời gian lao động xã hội cần thiết
- Gỉa sử kéo 10 kg bông thành sợi mất 6 giờ và mỗi giờ công
nhân tạo ra một giá trị 0,5 $:
0,5$ x 6 = 3$
Vậy giá trị của 1 kg sợi là:
Gía trị 10kg bông chuyển
vào: 10$
Gía trị của máy móc
chuyển vào: 2$
Gía trị do công nhân tạo
ra: 3$
Tổng cộng : 15$
Nếu quá trình lao động chỉ dựng ở đó (công nhân làm việc 6
giờ) thì không có giá trị thặng dư. Nhưng nhà tư bản đã mua sức lao
động trong 12 giờ chứ không phải trong 6 giờ. Việc sử dụng sức lao
động trong ngày đó là thuộc quyền của nhà tư bản
|
Nếu nhà tư bản bắt công nhân làm việc 12 giờ trong ngày như
đã thỏa thuận thì: Chi phí sản xuất: - Tiền mua bông 20 kg là:
20$ - Hao mòn máy móc là:
4$ - Tiền mua SLĐ trong 1 ngày:
3$ |
Gía trị của sản phẩm mới:
- Gía trị của bông được chuyển vào sợi : 20$ - Gía trị máy móc được
chuyển vào sợi: 4$ - Gía trị do lao động của công nhân tạo ra trong 12h lao động: 6 $ |
|
Cộng: 27 $ |
Cộng: 30$ |
|
Gía trị thặng dư: 30$ -
27$ = 3$ |
|
Như vậy,
27$ ứng trước của nhà tư bản đã chuyển thành 30$ đem lại một giá
trị thăng dự 3 $. Do đó tiền tệ ứng ra ban đầu đã chuyển hóa thành
TB
* Kết
luận:
- Một
là, giá trị thăng dư là phần giá trị mới dôi ra ngoái giá trị lao
động do công nhân tạo ra và bị nhà tư bản chiếm không.
- Hai là,
ngày lao động của công nhân chia thành hia phần: Thời gian lao động cần
thiết; thời gian lao động thặng dư.
- Ba là,
giá trị của hàng hóa gồm hai phần: giá trị TLSX, giá trị lao động
trừu tượng của CN tạo ra trong quá trình lao động, gọi là giá mới
lớn hơn giá trị của bản thân nó. Đây chính là chì khóa để giải
quyết mâu thuẫn công thức chung của CNTB.
2. Tư bản
bất biến và tư bản khả biến
a. Khái niệm tư bản
Tư bản là giá trị mang lại giá trị thặng dư bằng cách bóc lột lao động
không công của công nhân làm thuê.
Định nghĩa nói rõ bản chất của tư
bản hiện đại : tư bản là một quan hệ sản xuất xã hội thể hiện mối quan hệ giữa
giai cấp tư sản và giai cấp công nhân
làm thuê. Hiểu như vậy, tư bản là một phạm trù lịch sử.
b. Tư bản bất biến và tư bản khả biến
- Tư bản bất biến (ký hiệu là c)
Bộ
phận tư bản biểu hiện thành giá trị tư liệu sản xuất mà giá trị của nó được bảo
tồn và chuyển hoá nguyên vào sản phẩm, tức là giá trị của nó không có sự thay
đổi về lượng trong quá trình sản xuất, được gọi là tư bản bất biến.
- Tư bản khả biến (ký hiệu là v)
Bộ phận tư bản dùng để mua
sức lao động mà giá trị của nó có sự tăng thêm về lượng trong quá trình sản
xuất, được gọi là tư bản khả biến.
-
ý nghĩa:
·
Việc phát
hiện tính chất hai mặt của lao động sản xuất hàng hoá đã giúp C.Mác xác định sự
khác nhau giữa tư bản bất biến và tư bản khả biến. Việc phân chia tư bản thành
tư bản bất biến và tư bản khả biến chỉ rõ tư bản bất biến chỉ là điều kiện cần,
còn nguồn gốc thực sự tạo ra giá trị thặng dư là tư bản khả biến.
83.Tại sao nói “Chủ
nghĩa xã hội là tương lai của xã hội loài người”. Lấy dẫn chứng chứng minh.
1. Liên Xô và các nước xã hôi chủ nghĩa Đông Âu sụp đổ không có nghĩa
là sự cáo chung của chủ nghĩa xã hội
- Sự sụp đổ của Liên Xô và Đông Âu là sự sụp đổ
của một mô hình của chủ nghĩa xã hội trong quá trình đi tới mục tiêu xã hội chủ
nghĩa. Nó không đông nghĩa với sự cáo chung của chủ nghĩa xã hội với tư cách là một hình thái kinh tế xã hội
mà loài người đang vươn tới.
- Tương lai của xã hội
loài người vẫn là chủ nghĩa xã hội, đó là quy luật khách quan của sự phát triển
lịch sử.Tính chất của thời đại hoàn toàn không thay đổi, loài người vẫn đang
trong thời đại quá độ đi lên CNXH được mở ra từ sau CM T10 Nga.
- Các mâu thuẫn của
thời đại vẫn tồn tại, chỉ thay đổi hình thức biểu hiện và đặt ra yêu cầu mới
phải giải quyết
2. Các nước xã hội chủ nghĩa còn lại tiến hành cải cách, đổi mới và
ngày càng đạt được những thành tựu to lớn.
- Trong khi chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô
và Đông Âu sụp đổ, các nước xã hội chủ nghĩa còn lại tiếp tục đẩy mạnh công
cuộc cải cách, đổi mới một cách toàn diện, nhờ đó chế độ xã hội chủ nghĩa ở
những nước này không chỉ đứng vững mà còn tiếp tục được đổi mới và phát triển. Trong đó, Trung Quốc và Việt
Nam là hai nước đã tiến hành công cuộc cải cách, đổi mới tương đối thành công
nhất.
- Mặc dù TQ và VN có
nhiều điểm khác biệt nhưng công cuộc cải cách mở cửa của 2 nươc có điểm tương
đồng như sau:
+ Đã từ bỏ mô hình kinh tế kế hoach tập trung chuyển
sang kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa (Trung Quốc) hoặc theo định hướng xã
hội chủ nghĩa (Việt Nam)
+ Xây dựng nhà nước
pháp quyền xã hội chủ nghĩa theo hướng xây dựng hệ thống luật pháp ngày càng
tương đồng với hệ thống pháp luật hiện đại, đặc biệt là phù hợp với những cam
kết quốc tế.
+ Xây dựng các tổ chức
xã hội phi chính phủ da dạng
+ Hội nhập quốc tế sâu
rộng, tham gia vào hầu hết các tổ chức quốc tế, Liên hợp quốc, các tổ chức khu
vực
+ Bảo đảm sự cầm quyền
và lãnh đạo của Đảng Cộng sản đối với công việc và sự phát triển đất nước trên
tất cả các mặt
- Lấy dẫn chứng về sự
tăng trưởng và phát triển kinh tế của các nước XHCN
+ VN 20 năm đổi mới
(1986 – 2006)
+ TQ 30 năm cải cách
mơ cửa (1978 – 2007)...
=> Thế và lực của
các nước xã hội chủ nghĩa không ngừng tăng lên. Bất chấp sự chống phá của chủ
nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch, các nước xã hội chủ nghĩa đã dành được
nhiều thắng lợi to lớn, có ý nghĩa lích sử.
Những đóng góp, uy tín và vị thế của các nước xã hội chủ nghĩa, nhất là
Trung Quốc được quốc tế thừa nhận và đánh giá cao. Các nước xã hội chủ nghĩa
tích cực hoạt động tại các diễn đàn đa phương lớn
3. Đã xuất hiện những nhân tố mới
của xu hướng đi lên XHCN ở một số quốc gia trong thế giới đại dương.
- Ở nhiều nơi trên thế giới hiện nay, đặc biệt là Mỹ la tinh, từ những
năm 1990 một số nước đã tuyên bố đi lên CNXH.
Vênêxuêla, Êcuađo,
Nicaragoa...(lấy dẫn chứng và phân tích)
=> Sự xuất hiện của CNXH Mỹ latinh thế kỷ XXI đã và đang thể hiện sự
tác động sâu xa và sức sống mãnh liệt của chủ nghĩa xã hội hiện thực đối với các dân tộc Mỹ latinh, thể hiện bước
tiến mới của CNXH trên thế giới. Đó là một minh chứng lịch sử cho sức sống và
khả năng phát triển của CNXH.
·
KL: Từ diễn biến của tình hình thế giới từ cách mạng T10 Nga đến nay, từ
những bài học thành công và thất bại và sự thức tỉnh của các dân tộc, nhất định
sẽ có bước phát triển mới; theo quy luật của lịch sử, loài người nhất định sẽ
tiến tới CNXH, CNXH nhất định sẽ là tương lai của cả loài người.
Trong lịch sử phát triển của nền sản xuất xã hội, có hai hình thức sản
xuất rõ rệt là: sản xuất tự cấp tự túc và sản xuất hàng hóa.
Sản xuất tự cấp, tự túc là sản xuất sản phẩm để thỏa mãn nhu cầu của
người sản xuất trong nội bộ đơn vị kinh tế. Còn sản xuất hàng hóa là sản xuất
ra sản phẩm để bán, các quan hệ kinh tế giữa những người sản xuất biểu hiện qua
việc mua bán sản phẩm của nhau trên thị trường.
Sản xuất hàng hóa đã ra đời trong hai điều kiện lịch sử:
+ Có sự phân công lao động xã hội:
Phân công lao động xã hội là kết quả của sự phát triển lực lượng sản
xuất, biểu hiện ở sự chuyên môn hóa sản xuất. Do phân công lao động xã hội, mỗi
người hoặc mỗi nhóm người chỉ sản xuất một hoặc một số sản phẩm nhất định. Mỗi
người (hoặc mỗi nhóm người) đều thừa sản phẩm do mình sản xuất ra nhưng lại
thiếu các loại sản phẩm khác. Do đó, việc trao đổi sản phẩm trở thành tất yếu
và có lợi đối với mọi người sản xuất.
+ Có chế độ tư hữu. Điều đó làm cho những người sản xuất độc lập với
nhau; họ sản xuất dựa trên cơ sở tư liệu sản xuất của họ và sản phẩm lao động
thuộc quyền chi phối của họ.
Chế độ tư hữu làm cho những người sản xuất độc lập với nhau, còn phân
công lao động xã hội lại làm cho họ phụ thuộc vào nhau.
Sản xuất hàng hóa ra đời chính là để giải quyết mâu thuẫn này.so với
sản xuất tự cấp tự túc, sản xuất hàng hóa có nhiều ưu việt đặc biệt:
- Thúc đẩy sự phát triển mạnh mẽ của lực lượng sản xuất, ứng dụng tiến bộ kỹ thuật, hợp lý hóa sản xuất,
tiết kiệm, tăng năng suất lao động.
- Làm cho sản xuất gắn liền với tiêu dùng, sản phẩm thường xuyên được
cải tiến chất lượng, hình thức phù hợp với nhu cầu, thị hiếu người tiêu dùng.
- Thúc đẩy nhanh chóng quá trình xã hội hóa sản xuất, tích tụ và tập
trung sản xuất, mở rộng sự giao lưu thị trường trong nước và quốc tế.
- Là cơ sở thúc đẩy quá trình dân chủ hóa, bình đẳng, tiến bộ xã hội,
phá vỡ tính bảo thủ, trì trệ, phường hội của kinh tế tự nhiên, tự cấp tự túc
v.v..
Tuy nhiên, sản xuất hàng hóa có mặt trái của nó như việc làm phân hóa
người sản xuất thành giàu nghèo và nhiều hiện tượng tiêu cực như làm hàng giả,
lừa lọc
Câu 85. Hàng hóa là
gì? Phân tích các thuộc tính của hàng hóa và lượng giá trị của hàng hóa?
1. Hàng hóa là một vật phẩm của lao động có thể thỏa mãn nhu cầu nào đó
của con người và đi vào tiêu dùng thông qua trao đổi (mua - bán).
2. Hàng hóa có hai thuộc tính: giá trị sử dụng và giá trị.
a) Giá trị sử dụng
-Giá trị sử dụng của vật phẩm là công dụng của nó, có thể thỏa mãn nhu
cầu nào đó của con người như gạo để ăn, vải để may mặc, nhà để ở...
-Giá trị sử dụng của vật phẩm do thuộc tính tự nhiên của vật phẩm quy
định. giá trị sử dụng là một phạm trù vĩnh viễn.
-Trong kinh tế hàng hóa, giá trị sử dụng là vật mang giá trị trao đổi.
b) Giá trị
-giá trị hàng hóa là lao động xã hội của người sản xuất hàng hóa kết
tinh trong hàng hóa đó
- giá trị là cơ sở của giá trị trao đổi; còn giá trị trao đổi là
hình thức biểu hiện của giá trị.
- Giá trị phản ảnh mối quan hệ xã hội giữa những người sản xuất
hàng hóa. Do đó, giá trị là một phạm trù lịch sử, chỉ tồn tại trong
kinh tế hàng hóa.
3. Lượng giá trị của hàng hóa.
-Nếu giá trị là lao động xã hội của những người sản xuất hàng
hóa kết tinh trong hàng hóa thì lượng giá trị chính là lượng lao
động xã hội hao phí để sản xuất ra hàng hóa.
-Trong sản xuất hàng hóa, hao phí lao động cá biệt tạo thành giá
trị cá biệt của hàng hóa. Trên thị trường, không thể dựa vào giá trị
cá biệt để trao đổi mà phải dựa vào giá trị xã hội của hàng hóa.
Giá trị xã hội của hàng hóa được tính bằng thời gian lao động xã
hội cần thiết (tất yếu) để sản xuất một loại hàng hóa nào đó. Đó là
thời gian cần thiết để sản xuất hàng hóa trong điều kiện sản xuất
trung bình của xã hội với trình độ kỹ thuật trung bình, trình độ
thành thạo trung bình, cường độ lao động trung bình
-Giá trị hàng hóa thay đổi phụ thuộc vào năng suất lao động.
giá trị của hàng hóa biến đổi tỷ lệ nghịch với năng suất lao động.
Câu 86. Tiền tệ
xuất hiện như thế nào trong lịch sử phát triển của sản
xuất và trao đổi
hàng hóa? Bản chất và chức năng của tiền tệ?
1. Lịch sử ra đời của tiền tệ và bản chất của nó.
Tiền tệ xuất hiện là kết quả của quá trình phát triển của sản
xuất và trao đổi hàng hóa, và cũng là kết quả của quá trình phát
triển các hình thái giá trị của hàng hóa.
Hình thái giá trị đầu tiên là hình thái giản đơn hay ngẫu nhiên.
Người sản xuất làm ra sản phẩm dùng không hết (như lúc được
mùa chẳng hạn), thừa ngẫu nhiên, đem trao đổi và ngẫu nhiên
gặp một loại hàng hóa nào đó; việc trao đổi diễn ra theo một tỷ lệ
cũng ngẫu nhiên và giản đơn: hàng đổi lấy hàng.
Ở hình thái này, hàng hóa thứ nhất (aHA) biểu hiện giá trị của
nó ở hàng hóa thứ hai (bHB), còn hàng hóa thứ hai đóng vai trò là
vật ngang giá.
Khi phân công lao động xã hội phát triển đến mức độ nào đó,
chủng loại hàng hóa trao đổi trên thị trường nhiều hơn, thì một hàng
hóa có thế gặp và trao đổi với nhiều hàng hóa khác.
Đó là hình thái giá trị mở rộng.
Khi phân công lao động xã hội phát triển hơn nữa, làm cho sản
xuất hàng hóa cũng phát triển, trao đổi hàng hóa trở nên thường
xuyên và phổ biến hơn. Để cho sự trao đổi được thuận lợi, người ta
chọn một hàng hóa nào đó làm vật ngang giá chung.
Đó là hình thái chung của giá trị. Vật ngang giá chung có thể
trao đổi trực tiếp với một hàng hóa bất kỳ. Nó trở thành môi giới,
thành phương tiện để trao đổi. Khi sản xuất và trao đổi hàng hóa
phát triển hơn, thị trường được mở rộng, người ta chọn bạc và
vàng làm vật ngang giá chung là thuận lợi hơn cả. Lúc đó, hình
thức tiền của giá trị ra đời.
Khi bạc và vàng cùng được dùng làm chức năng tiền tệ thì chế
độ tiền tệ gọi là chế độ song kim. Khi chỉ còn vàng độc chiếm vai
trò tiền tệ thì chế độ tiền tệ được gọi là chế độ bản vị vàng.
Khi tiền tệ xuất hiện, thế giới hàng hóa phân ra hai cực: một
phía, là các hàng hóa thông thường; một phía là hàng hóa đóng vai
trò tiền tệ. Như vậy, tiền tệ là một loại hàng hóa đặc biệt, dùng
làm vật ngang giá chung cho tất cả các hàng hóa, là sự thể hiện
chung của giá trị và lao động xã hội, nó biểu hiện quan hệ sản
xuất giữa những người sản xuất hàng hóa do quá trình phát triển
lâu dài của sản xuất và trao đổi hàng hóa tạo ra. Đó là nguồn gốc
và bản chất của tiền tệ.
2. Chức năng của tiền tệ.
Tiền tệ có năm chức năng:
a) Thước đo giá trị
Tiền tệ làm được thước đo giá trị vì bản thân nó cũng là một
hàng hóa, cũng có giá trị như các hàng hóa khác. Để làm được
thước đo giá trị, mỗi quốc gia có một đơn vị tiền tệ nhất định.
Giá trị của mỗi hàng hóa được biểu hiện bằng một số tiền nhất
định, đó là giá cả của hàng hóa.
Giá trị là cơ sở của giá cả, nhưng do quan hệ cung cầu, giá cả có
thể lên xuống xung quanh giá trị. Tuy vậy, xét trong phạm vi toàn
xã hội trong thời gian nhất định thì tổng số giá cả bằng tổng số giá
trị của hàng hóa.
b) Phương tiện lưu thông
Làm phương tiện lưu thông, tiền tệ đóng vai trò môi giới, trung
gian trong trao đổi hàng hóa và dưới hình thức tiền mặt. Nó vận
động theo công thức H-T-H (H = hàng; T = tiền).
Số lượng tiền này được xác định bằng quy luật lưu thông tiền tệ
như sau:
c) Phương tiện cất trữ
Khi làm chức năng này, tiền tệ rút khỏi lưu thông và đi vào
"kho" cất trữ. Tiền cất trữ phải có đủ giá trị. Người ta
thường cất
trữ vàng và bạc.
d) Phương tiện thanh toán
Kinh tế hàng hóa phát triển đến một trình độ nào đó sẽ sinh ra
việc mua bán chịu. Khi đó, tiền có chức năng làm phương tiện
thanh toán: trả tiền mua chịu, trả nợ...
Chức năng này càng phát triển, càng làm tăng thêm sự phụ
thuộc lẫn nhau giữa những người sản xuất và trao đổi hàng hóa.
e) Tiền tệ thế giới
Khi trao đổi hàng hóa vượt khỏi biên giới một quốc gia, quan hệ
buôn bán giữa các nước hình thành, thì tiền tệ làm chức năng tiền
tệ thế giới.
Tiền tệ là sản phẩm khách quan của lịch sử phát triển sản xuất
và trao đổi hàng hóa. Nó là loại hàng hóa đặc biệt, đóng vai trò vật
ngang giá chung, làm được nhiều chức năng phục vụ cho sản xuất
và trao đổi hàng hóa. Trong xã hội có giai cấp, giai cấp thống trị
thường sử dụng tiền tệ làm công cụ phục vụ cho lợi ích của giai cấp
mình.
Câu 87. Cơ sở khách
quan và những tác dụng của quy luật giá trị trong
1. Cơ sở khách quan và yêu cầu của quy luật giá trị.
Quy luật giá trị là quy luật kinh tế của nền sản xuất hàng hóa.
Ở đâu có sản xuất hàng hóa thì ở đó có quy luật giá trị hoạt động
một cách khách quan.
Quy luật giá trị đòi hỏi việc sản xuất và trao đổi hàng hóa, phải
dựa trên cơ sở hao phí lao động xã hội cần thiết, có nghĩa là:
- Trong sản xuất, nó đòi hỏi người sản xuất luôn luôn có ý thức
tìm cách hạ thấp hao phí lao động cá biệt xuống nhỏ hơn, hoặc
bằng hao phí lao động xã hội cần thiết.
- Trong lưu thông, nó đòi hỏi việc trao đổi hàng hóa phải dựa
trên nguyên tắc ngang giá.
Quy luật giá trị hoạt động thông qua sự lên xuống của giá cả
trên thị trường. Nó có mối quan hệ hữu cơ với quy luật cung - cầu.
Khi cung lớn hơn cầu thì giá cả nhỏ hơn giá trị. Khi cung nhỏ hơn
cầu thì giá cả lớn hơn giá trị.
2. Tác dụng của quy luật giá trị.
Quy luật giá trị hoạt động ở trong mọi phương thức sản xuất có
sản xuất hàng hóa, nhưng đặc điểm hoạt động, vai trò và tác dụng
của nó khác nhau, vì nó bị các quy luật kinh tế đặc thù của
phương thức sản xuất đó chi phối.
Trong điều kiện nền sản xuất hàng hóa dựa trên cơ sở chế độ tư
hữu giữ vai trò thống trị, quy luật giá trị hoạt động một cách tự
phát và có bốn tác dụng chủ yếu sau:
- Tự phát điều tiết các yếu tố sản xuất (tư liệu sản xuất và sức
lao động) vào các ngành, các khu vực khác nhau của nền sản xuất
xã hội, thông qua sự biến động của cung - cầu thể hiện qua giá cả
trên thị trường.
- Tự phát điều tiết lưu thông hàng hóa. Thông qua sự biến động
(chênh lệch) của giá cả, hàng hóa từ nơi có giá cả thấp sẽ được di
chuyển về nơi có giá cả cao.
- Tự phát kích thích cải tiến kỹ thuật, hợp lý hóa sản xuất, tăng
năng suất lao động, làm cho lực lượng sản xuất phát triển.
- Tự phát làm phân hóa người sản xuất thành giàu và nghèo.
Trong điều kiện chủ nghĩa xã hội có nền kinh tế nhiều thành
phần trong đó thành phần kinh tế nhà nước và kinh tế tập thể làm
nền tảng, còn thành phần kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo thì
vai trò của quy luật giá trị về cơ bản không còn như trước. Tuy
nhiên nó vẫn thực hiện chức năng điều tiết, kích thích và đào thải
vốn có của nó.
Trong điều kiện quá độ lên chủ nghĩa xã hội, nền kinh tế còn
nhiều thành phần, còn nhiều loại quy luật đặc thù hoạt động đan
xen vào nhau, làm cho sự hoạt động của quy luật giá trị vừa có
tính tự phát vừa có tính tự giác, tuy vẫn có đầy đủ các tác dụng
trên.
Vấn đề quan trọng là phải nhận thức và vận dụng quy luật giá
trị bằng các chính sách kinh tế phù hợp trên cơ sở khoa học, nhằm
thực hiện có hiệu quả những mục tiêu kinh tế - xã hội.
Câu 88. Thị trường
là gì? Vai trò của nó trong nền sản xuất hàng hóa.
Quy luật cung - cầu
và tác động của nó trên thị trường như thế nào?
1. Thị trường và cơ chế thị trường
a) Thị trường là nơi diễn ra mối quan hệ kinh tế giữa những
người trao đổi hàng hóa theo quy luật của sản xuất và lưu thông
hàng hóa; là tổng hợp các mối quan hệ lưu thông hàng hóa và lưu
thông tiền tệ.
- Nó phản ánh nhanh nhậy quan hệ cung cầu, là nơi phát tín
hiệu thông tin về sự biến động của nền kinh tế, giúp cho việc điều
chỉnh sản xuất, hình thành nên những tỷ lệ cân đối giữa sản xuất
và tiêu dùng, giữa cung và cầu, giữa sản xuất và lưu thông.
- Thị trường là nơi thừa nhận cuối cùng công dụng xã hội đối với
sản phẩm và lao động chi phí để sản xuất ra nó. Do đó, nó kích
thích những người sản xuất và trao đổi hàng hóa giảm chi phí sản
xuất và lưu thông, cải tiến chất lượng, quy cách, mẫu mã, hình
thức cho phù hợp nhu cầu, thị hiếu người tiêu dùng.
b) Cơ chế thị trường là guồng máy hoạt động của hệ thống các
thị trường trong nền kinh tế hàng hóa, điều tiết quá trình sản
xuất và lưu thông theo yêu cầu khách quan của các quy luật của
thị trường (quy luật giá trị, quy luật cung cầu, quy luật cạnh
tranh, quy luật lưu thông tiền tệ...). Vì vậy, cơ chế thị trường quy
định những người sản xuất và trao đổi hàng hóa phải sản xuất
theo cơ cấu hợp lý chủng loại hàng hóa, giá cả bao nhiêu, lưu
thông hàng hóa như thế nào...
Thị trường và cơ chế thị trường có những khuyết tật nhất định,
như:
- Tính tự phát dẫn tới sự hỗn độn trong nền kinh tế.
- Kích thích lợi ích cá nhân, lợi ích cục bộ, nhưng lại xem nhẹ lợi
ích xã hội, lợi ích toàn thể.
- Chỉ phản ánh nhu cầu trước mắt, không vạch rõ nhu cầu tương
lai.
- Những chỉ số kinh tế như giá cả, lợi nhuận,... thường xuyên
biến động làm cho người sản xuất và lưu thông hàng hóa khó định
hướng, thường bị động đối phó, nhiều lúc gây ra sự lãng phí lao
động xã hội.
lượng dự trữ về kinh tế và những chính sách phù hợp như kế hoạch,
thuế, hợp đồng kinh tế để cùng với thị trường điều khiến sự hoạt
động của nền kinh tế theo định hướng và mục tiêu đã xác định.
2. Quy luật cung - cầu.
a) Cơ sở khách quan của quy luật cung cầu
Cung phản ánh khối lượng sản phẩm hàng hóa được sản xuất và
được đưa ra thị trường để thực hiện (để bán).
Cung do sản xuất quy định, nhưng không đồng nhất với sản
xuất.
Cầu phản ánh nhu cầu tiêu dùng có khả năng thanh toán của xã
hội. Do đó, cầu không đồng nhất với tiêu dùng, vì nó không phải là
nhu cầu tự nhiên, nhu cầu bất kỳ theo nguyện vọng tiêu dùng chủ
quan của con người, mà phụ thuộc vào khả năng thanh toán.
Cung - cầu có mối quan hệ hữu cơ với nhau, thường xuyên tác
động lẫn nhau trên thị trường; ở đâu có thị trường thì ở đó có quy
luật cung - cầu tồn tại và hoạt động một cách khách quan.
b) Cung - cầu tác động lẫn nhau
Cầu xác định cung và ngược lại cung xác định cầu. Cầu xác định
khối lượng, chất lượng và chủng loại cung về hàng hóa. Những
hàng hóa nào tiêu thụ được mới được tái sản xuất. Ngược lại, cung
tạo ra cầu, kích thích tăng cầu thông qua phát triển số lượng, chất
lượng, chủng loại hàng hóa, hình thức, quy cách và giá cả của nó.
Cung - cầu tác động lẫn nhau và ảnh hưởng trực tiếp đến giá cả.
Đây là sự tác động phức tạp theo nhiều hướng và nhiều mức độ
khác nhau.
Quy luật cung - cầu tác động khách quan và rất quan trọng. Nếu
nhận thức được chúng thì có thể vận dụng để tác động đến hoạt
động sản xuất kinh doanh theo chiều hướng có lợi cho quá trình
tái sản xuất xã hội.
Nhà nước có thể vận dụng quy luật cung - cầu thông qua các
chính sách, các biện pháp kinh tế như: giá cả, lợi nhuận, tín dụng,
hợp đồng kinh tế, thuế, thay đổi cơ cấu tiêu dùng... để tác động vào
các hoạt động kinh tế theo quy luật cung - cầu, duy trì những tỷ lệ
cân đối cung - cầu một cách lành mạnh và hợp lý.
Câu 89. Sự chuyển
hóa tiền tệ thành tư bản
Chủ nghĩa tư bản ra đời khi có hai điều kiện: có một lớp người
được tự do về thân thể nhưng lại không có tư liệu sản xuất; và tiền
của phải được tập trung vào tay một số người, với một lượng đủ
lớn, để lập các xí nghiệp.
1. Công thức chung của tư bản.
a) So sánh công thức lưu thông hàng hóa giản đơn với công thức
chung của tư bản
Lưu thông hàng hóa giản đơn vận động theo công thức:
H-T-H (1). Trong công thức này, tiền tệ không phải là tư bản.
Tiền tệ chỉ trở thành tư bản trong những điều kiện nhất định.
Mọi tư bản đều xuất hiện từ một khối lượng tiền nhất định và
vận động theo công thức: T-H-T’ (2). Đây là công thức chung của tư
bản, vì mọi tư bản đều vận động theo công thức này.
Giữa công thức (1) và công thức (2) có những điểm khác nhau:
- Về điểm xuất phát và kết thúc quá trình vận động trong công
thức 1 là H (Hàng); trong công thức 2 là T (Tiền).
- Về trình tự của quá trình vận động: Trong công thức 1 bán
trước, mua sau; trong công thức 2 mua trước, bán sau.
- Về mục đích của quá trình vận động:
Trong công thức 1 là giá trị sử dụng; trong công thức 2 là giá trị.
Ở đây, tiền thu về (T’) phải lớn hơn tiền ứng trước (T) một lượng là
t. Do đó T’ = T + (T’. Số tiền trội lên so với tiền ứng ra ban đầu là
giá trị thặng dư, ký hiệu là (m).Như vậy, số tiền ứng ra ban đầu (T)
với mục đích đem lại giá trị
thặng dư cho người chủ có tiền được gọi là tư bản. Qua đó, đi đến
kết luận: Tiền tệ chỉ trở thành tư bản khi được dùng để mang lại
giá trị thặng dư cho nhà tư bản.
b) Mâu thuẫn của công thức chung của tư bản
Lý luận giá trị đã chứng minh rằng:
Giá trị của hàng hóa do lao động của những người sản xuất
hàng hóa tạo ra trong sản xuất. Nhưng nhìn vào công thức T-H-T’
người ta dễ lầm tưởng rằng tiền tệ cũng tạo ra giá trị khi vận
động trong lưu thông.
Thực chất thì bản thân tiền, dù
ở ngoài hay ở trong lưu thông,
cũng không tự lớn lên được. Tiền không thể sinh ra tiền là điều
hiển nhiên.
Còn lưu thông thuần túy, dù diễn ra ở bất cứ hình thức nào, kể cả
việc mua rẻ bán đắt, cũng không làm tăng thêm giá trị, không tạo ra
giá trị thặng dư; ở đây chỉ có sự phân phối lại lượng giá trị có sẵn
trong xã hội mà thôi bởi nếu mua rẻ thứ này thì sẽ lại phải mua đắt
thứ kia; bán đắt thứ này thì lại phải bán rẻ thứ khác, vì tổng khối
lượng hàng và tiền trong toàn xã hội ở một thời gian nhất định là
một số lượng không đổi.
Tuy vậy, không có lưu thông cũng không tạo ra được giá trị thặng
dư. Do đó, mâu thuẫn của công thức chung của tư bản là giá trị
thặng dư không do lưu thông đẻ ra nhưng lại được tạo ra thông qua
lưu thông.
Sở dĩ như vậy vì nhà tư bản tìm được trên thị trường một loại
hàng hóa đặc biệt có khả năng tạo ra giá trị thặng dư cho mình. Đó
là hàng hóa sức lao động.
2. Hàng hóa sức lao động.
Sức lao động là toàn bộ thể lực và trí lực của con người, là khả
năng lao động của con người. Sức lao động là yếu tố cơ bản của mọi
quá trình sản xuất. Nó chỉ trở thành hàng hóa khi có hai điều
kiện:
- Người có sức lao động được tự do thân thể, được quyền làm chủ
sức lao động của mình để có thể đi làm thuê (bán sức lao động).
- Họ không có tư liệu sản xuất và của cải khác để sinh sống,
buộc phải đi làm thuê, tức là bán sức lao động của mình. Sức lao
động khi trở thành hàng hóa, nó vừa có hai thuộc tính như hàng hóa
thông thường vừa có đặc điểm riêng.
- Giá trị hàng hóa sức lao động cũng bằng lượng lao động xã hội
cần thiết để sản xuất và tái sản xuất ra nó. Nhưng việc sản xuất
và tái sản xuất ra sức lao động phải được thực hiện bằng cách tiêu
dùng cho cá nhân. Vì vậy, lượng giá trị hàng hóa sức lao động
bằng lượng giá trị những tư liệu sinh hoạt cần thiết về vật chất và
tinh thần để nuôi sống người công nhân, gia đình anh ta và chi phí
đào tạo công nhân theo yêu cầu của sản xuất. Vì vậy, giá trị hàng
hóa sức lao động phụ thuộc vào điều kiện lịch sử cụ thể của mỗi
quốc gia trong từng thời kỳ nhất định.
- Giá trị sử dụng hàng hóa sức lao động là công dụng của nó để
thỏa mãn nhu cầu người mua là sử dụng vào quá trình lao động.
Khác với hàng hóa thông thường, hàng hóa sức lao động khi được
sử dụng, nó tạo ra một lượng giá trị mới lớn hơn giá trị bản thân nó.
Đó chính là nguồn gốc của giá trị thặng dư.
Hàng hóa sức lao động là điều kiện để chuyển hóa tiền tệ thành
tư bản. Đây cũng chính là chìa khóa để giải quyết mâu thuẫn
trong công thức chung của tư bản.
Như vậy, tiền tệ chỉ trở thành tư bản khi nó được sử dụng làm
phương tiện để mang lại giá trị thặng dư cho người có tiền và
người có tiền phải tìm được một loại hàng hóa đặc biệt - hàng hóa
sức lao động.
Câu 90. Thế nào là
tư bản bất biến và tư bản khả biến? Việc phân chia
tư bản thành hai bộ
phận như vậy có ý nghĩa gì? Thế nào là tỷ suất
1. Tư bản bất biến và tư bản khả biến
Để tiến hành sản xuất, nhà tư bản phải ứng tiền ra để mua tư
liệu sản xuất và sức lao động, nghĩa là biến tư bản tiền tệ thành
các yếu tố của quá trình sản xuất. Các yếu tố này có vai trò khác
nhau trong việc tạo ra giá trị thặng dư.
- Trong sản xuất, công nhân sử dụng tư liệu sản xuất để chế tạo
ra sản phẩm. Tư liệu sản xuất có nhiều loại, có loại như nhà
xưởng, kho tàng, thiết bị, máy móc được sử dụng trong một thời
gian dài, hao mòn dần qua nhiều chu kỳ sản xuất, nên giá trị của
nó được chuyển từng phần vào sản phẩm. Có loại như nguyên liệu
nhiên liệu, vật liệu phụ tiêu hao toàn bộ qua một chu kỳ sản xuất,
nên giá trị của nó được chuyển nguyên vẹn ngay vào sản phẩm
mới.
Như vậy, dù giá trị tư liệu sản xuất được chuyển dần từng phần
hay chuyển nguyên vẹn ngay vào sản phẩm, bộ phận tư bản tồn
tại dưới hình thức tư liệu sản xuất có đặc điểm chung là giá trị của
chúng được bảo tồn không có sự thay đổi về lượng và chuyển vào
sản phẩm mới trong quá trình sản xuất.
Bộ phận tư bản này gọi là tư bản bất biến (ký hiệu bằng C).
- Bộ phận tư bản tồn tại dưới hình thức sức lao động có tính chất
khác với bộ phận tư bản bất biến (C).
Trong quá trình sản xuất, bộ phận tư bản này có sự thay đổi về
lượng, tăng lên về số lượng giá trị, vì đặc điểm của giá trị sử dụng
của hàng hóa sức lao động là khi được đem tiêu dùng thì nó tạo ra
một lượng giá trị mới lớn hơn giá trị bản thân nó - gọi là tư bản
khả biến (ký hiệu bằng V).
- Việc phân chia tư bản thành tư bản bất biến và tư bản khả
biến vạch rõ nguồn gốc của giá trị thặng dư là do lao động làm
thuê của công nhân tạo ra và bị nhà tư bản chiếm không. Hiện
nay, giai cấp tư sản sử dụng máy móc hiện đại tự động hóa quá
trình sản xuất đối với một số sản phẩm. Trong điều kiện sản xuất
như vậy, tư bản bất biến có vai trò quan trọng quyết định việc
tăng năng suất lao động, nhưng cũng không thể coi đó là nguồn
gốc của giá trị thặng dư. Suy đến cùng, bộ phận tư bản khả biến
tồn tại dưới hình thức sức lao động (chân tay và trí óc) mới là
nguồn gốc sinh ra giá trị thặng dư tư bản chủ nghĩa.
2. Tỷ suất giá trị thặng dư
Tỷ suất giá trị thặng dư là tỷ lệ phần trăm giữa giá trị thặng dư
và tư bản khả biến. Tỷ suất giá trị thặng dư ký hiệu là m’ và được
xác định bằng công thức:
m
m’ = ——— x 100%
v
Tỷ suất giá trị thặng dư vạch rõ trình độ bóc lột của nhà tư bản
đối với lao động làm thuê, đồng thời nó cũng nói lên ngày lao động
được phân chia thành hai phần - thời gian lao động cần thiết và
thời gian lao động thặng dư - như thế nào.
Câu 91. Thế nào là
giá trị thặng dư? Giá trị thặng dư tuyệt đối, giá trị
thặng dư tương đối
và giá trị thặng dư siêu ngạch? Vì sao nói sản
xuất giá trị thặng
dư là quy luật kinh tế cơ bản của chủ nghĩa tư
1. Giá trị thặng dư, giá trị thặng dư tuyệt đối, giá trị thặng dư
tương đối và giá trị thặng dư siêu ngạch.
- Giá trị thặng dư là phần giá trị dôi ra ngoài giá trị sức lao
động, do công nhân làm thuê tạo ra và bị nhà tư bản chiếm không.
Giá trị thặng dư phản ánh bản chất của quan hệ sản xuất tư
bản chủ nghĩa - quan hệ bóc lột của nhà tư bản đối với lao động
làm thuê.
Để thu được giá trị thặng dư, có hai phương pháp chủ yếu:
phương pháp sản xuất giá trị thặng dư tuyệt đối và phương pháp
sản xuất giá trị thặng dư tương đối.
- Giá trị thặng dư tuyệt đối là giá trị thặng dư thu được do kéo
dài ngày lao động vượt khỏi giới hạn thời gian lao động cần thiết.
Ngày lao động kéo dài trong khi thời gian lao động cần thiết không
đổi, do đó thời gian lao động thặng dư tăng lên.
Sản xuất giá trị thặng dư tuyệt đối là cơ sở chung của chế độ tư
bản chủ nghĩa. Phương pháp này được áp dụng phổ biến ở giai
đoạn đầu của chủ nghĩa tư bản, khi lao động còn ở trình độ thủ công
và năng suất lao động còn thấp.
Với lòng tham vô hạn, nhà tư bản tìm mọi thủ đoạn để kéo dài
ngày lao động, nâng cao trình độ bóc lột sức lao động làm thuê.
Nhưng một mặt, do giới hạn tự nhiên của sức lực con người; mặt
khác, do đấu tranh quyết liệt của công nhân đòi rút ngắn ngày lao
động, cho nên ngày lao động không thể kéo dài vô hạn. Tuy nhiên,
ngày lao động cũng không thể rút ngắn đến mức chỉ bằng thời gian
lao động tất yếu. Một hình thức khác của sản xuất giá trị thặng dư
tuyệt đối là tăng cường độ lao động. Vì tăng cường độ lao động cũng
giống như kéo dài thời gian lao động trong ngày, trong khi thời gian
lao động cần thiết không thay đổi.
- Giá trị thặng dư tương đối là giá trị thặng dư thu được do rút
ngắn thời gian lao động tất yếu trên cơ sở tăng năng suất lao động
xã hội. Việc tăng năng suất lao động xã hội, trước hết ở các ngành
sản xuất ra vật phẩm tiêu dùng, sẽ làm cho giá trị sức lao động
giảm xuống do đó, làm giảm thời gian lao động cần thiết. Khi độ
dài ngày lao động không thay đổi, thời gian lao động cần thiết
giảm sẽ làm tăng thời gian lao động thặng dư - thời gian để sản
xuất ra giá trị thặng dư tương đối cho nhà tư bản.
- Để giành ưu thế trong cạnh tranh, để thu được nhiều giá trị
thặng dư, các nhà tư bản đã áp dụng những tiến bộ kỹ thuật mới vào
sản xuất, cải tiến tổ chức sản xuất, hoàn thiện phương pháp quản
lý kinh tế, nâng cao năng suất lao động. Kết quả là, giá trị cá biệt
của hàng hóa thấp hơn giá trị xã hội. Nhà tư bản nào thực hiện
được điều đó thì khi bán hàng hóa của mình sẽ thu được một số giá
trị thặng dư trội hơn so với các nhà tư bản khác.
Phần giá trị thặng dư thu được trội hơn giá trị thặng dư bình
thường của xã hội được gọi là giá trị thặng dư siêu ngạch.
Xét từng đơn vị sản xuất tư bản chủ nghĩa, giá trị thặng dư siêu
ngạch là hiện tượng tạm thời cục bộ. Nhưng xét về toàn bộ xã hội
tư bản, giá trị thặng dư siêu ngạch là hiện tượng tồn tại thường
xuyên. Vì vậy, giá trị thặng
dư siêu ngạch là một động lực mạnh
nhất thúc đẩy các nhà tư bản ra sức cải tiến kỹ thuật, tăng năng
suất lao động.
Giá trị thặng dư siêu ngạch và giá trị thặng dư tương đối đều
dựa trên cơ sở tăng năng suất lao động. Cái khác nhau là ở chỗ giá
trị thặng dư tương đối thì dựa trên cơ sở tăng năng suất lao động
xã hội; còn giá trị thặng dư siêu ngạch thì dựa trên cơ sở tăng
năng suất lao động cá biệt.
2. Sản xuất giá trị thặng dư là quy luật kinh tế cơ bản của chủ
nghĩa tư bản.
Quy luật kinh tế cơ bản là quy luật phản ánh bản chất và mục
đích của một phương thức sản xuất. Mỗi phương thức sản xuất có
một quy luật kinh tế cơ bản.
Bị tước đoạt hết tư liệu sản xuất công nhân buộc phải bán sức
lao động cho nhà tư bản. Lao động không công của công nhân làm
thuê là nguồn gốc của giá trị thặng dư, nguồn gốc làm giàu của
nhà tư bản.
Sản xuất giá trị thặng dư là mục đích duy nhất của nền sản
xuất tư bản chủ nghĩa. Vì mục đích đó, các nhà tư bản sản xuất
bất cứ loại hàng hóa nào, kể cả vũ khí giết người hàng loạt, miễn
là thu được nhiều giá trị thặng dư. Phương tiện để đạt mục đích là
tăng cường bóc lột công nhân làm thuê trên cơ sở phát triển kỹ
thuật, tăng cường độ lao động, kéo dài ngày lao động, tăng năng
suất lao động v.v..
Sản xuất giá trị thặng dư là quy luật kinh tế cơ bản của chủ
nghĩa tư bản. Nội dung của quy luật là tạo ra ngày càng nhiều giá
trị thặng dư cho nhà tư bản bằng cách tăng cường các phương tiện
kỹ thuật và quản lý để bóc lột ngày càng nhiều lao động làm thuê.
Quy luật giá trị thặng dư có tác dụng mạnh mẽ trong nhiều mặt
của đời sống xã hội. Một mặt, nó thúc đẩy kỹ thuật và phân công
lao động xã hội phát triển, làm cho lực lượng sản xuất trong xã hội
tư bản chủ nghĩa phát triển với tốc độ nhanh và nâng cao năng
suất lao động. Mặt khác, nó làm cho các mâu thuẫn vốn có của chủ
nghĩa tư bản, trước hết là mâu thuẫn cơ bản của nó - mâu thuẫn
giữa tính chất xã hội của sản xuất với sự chiếm hữu tư nhân tư
bản chủ nghĩa về tư liệu sản xuất - ngày càng gay gắt.
100 CÂU HỎI TỰ LUẬN VÀ ĐÁP ÁN MÔN KTCT
(MAC 2) DÙNG CHO SINH VIÊN NEU PHẦN LỜI GIẢI DO NHÓM
BIÊN TẬP LỚP BĐS 50B ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN HÀ NỘI THỰC HIỆN www.Diachu.ning.com Địa chỉ cập
nhật tài liệu ôn thi -Phần mềm thi trắc nhiệm-Kho luận văn-Báo cáo tốt
nghiệp cho sinh viên Đại Học Kinh Tế Quốc Dân www.Diachu.ning.com Địa chỉ cập nhật tài liệu ôn thi -Phần
mềm thi trắc nhiệm-Kho luận văn-Báo cáo tốt nghiệp cho sinh viên Đại Học
Kinh Tế Quốc Dân
Câu 92. Tích lũy tư
bản là gì? Những nhân tố nào ảnh hưởng đến quy
mô tích lũy tư bản?
Thế nào là tích tụ, tập trung và cấu tạo hữu cơ
1. Tích lũy tư bản và nhân tố ảnh hưởng đến quy mô của tích
lũy.
- Tích lũy tư bản là biến một phần giá trị
thặng dư thành tư bản
để mở rộng sản xuất, tăng thêm quy mô bóc
lột.
Tích lũy tư bản là tất yếu khách quan do quy
luật kinh tế cơ
bản, quy luật giá trị và cạnh tranh... của
phương thức sản xuất tư
bản chủ nghĩa quy định. Nguồn gốc duy nhất
của tư bản tích lũy
là giá trị thặng dư; thực chất của tích lũy
tư bản là biến một phần
giá trị thặng dư thành tư bản phụ thêm để mở
rộng sản xuất.
- Quy mô tích lũy phụ thuộc vào khối lượng
giá trị thặng dư và
tỷ lệ phân chia giá trị thặng dư thành tư
bản phụ thêm và thu
nhập (bộ phận giá trị thặng dư nhà tư bản
tiêu dùng cho cá nhân).
Nếu tỷ lệ phân chia không thay đổi, thì quy mô
tích lũy phụ thuộc
vào các nhân tố làm tăng khối lượng giá trị
thặng dư như:
+ Tăng cường bóc lột sức lao động. Nhân tố
này biểu hiện ở chỗ
cắt xén tiền công, tăng cường độ lao động
đối với công nhân làm
thuê.
+ Tăng năng suất lao động xã hội. Đây là đòn
bẩy kinh tế mạnh
mẽ và có tác dụng thiết thực đối với tích
lũy.
+ Sự chênh lệch ngày càng lớn giữa tư bản sử
dụng (tức giá trị
máy móc, thiết bị được sử dụng) và tư bản
tiêu dùng (tức giá trị
tiêu hao của máy móc, thiết bị đó qua mỗi
chu kỳ sản xuất).
+ Quy mô tư bản ứng trước. Quy mô tư bản ứng
trước càng lớn,
càng có điều kiện phát triển nhanh, do đó
tích lũy ngày càng
nhiều.
2. Tích tụ tư bản.
Tích tụ tư bản là sự tăng thêm quy mô tư bản
cá biệt bằng cách
tư bản hóa một phần giá trị thặng dư. Tích
tụ tư bản là kết quả
trực tiếp của tích lũy tư bản. Chẳng hạn,
một tư bản 1.000 đôla
cộng thêm 100 đôla giá trị thặng dư tư bản
hóa thành một tư bản
lớn hơn là 1.100 đôla.
Tích tụ tư bản là một tất yếu. Trước hết đó
là do yêu cầu của
quy luật kinh tế cơ bản của chủ nghĩa tư
bản, của cạnh tranh và
của tiến bộ kỹ thuật. Đồng thời trình độ bóc
lột và khối lượng giá
trị thặng dư bóc lột được ngày càng tăng
trong quá trình phát
triển của chủ nghĩa tư bản là điều kiện vật
chất làm cho khả năng
tư bản hóa giá trị thặng dư biến thành hiện
thực tích tụ tư bản.
3. Tập trung tư bản.
Tập trung tư bản là sự tăng
thêm quy mô tư bản bằng cách kết
hợp nhiều tư bản nhỏ thành một tư bản lớn
hơn. Thí dụ: một tư bản
3.000 đôla hợp lại với một tư bản 2.000 đôla
thành một tư bản lớn
hơn là 5.000 đôla.
Tập trung tư bản thường diễn ra bằng hai
phương pháp. Phương
pháp cưỡng bức và phương pháp tự nguyện.
Phương pháp cưỡng
bức thể hiện ở chỗ: trong quá trình cạnh
tranh, các nhà tư bản lớn
thôn tính các nhà tư bản nhỏ phá sản. Ở
phương pháp tự nguyện
trong quá trình cạnh tranh, các nhà tư bản
không phân thắng bại,
họ liên hiệp lại và tổ chức các công ty cổ
phần để tránh khỏi sự phá
sản và có đủ sức mạnh cần thiết cho cạnh
tranh trên phạm vi mới.
Nếu tích tụ tư bản làm tăng quy mô tư bản xã
hội và phản ánh
mối quan hệ trực tiếp giữa giai cấp công
nhân và giai cấp tư sản
thì tập trung tư bản không làm tăng quy mô
tư bản xã hội mà chỉ
phân phối lại và tổ chức lại tư bản xã hội;
nó phản ánh quan hệ
trực tiếp giữa các nhà tư bản.
Tích tụ và tập trung tư bản có quan hệ với
nhau và tác động
thúc đẩy nhau. Tích tụ tư bản làm tăng quy
mô tư bản cá biệt
khiến cho cạnh tranh gay gắt hơn, dẫn đến sự
tập trung tư bản.
Tập trung tư bản tạo ra điều kiện để tăng
cường bóc lột giá trì
thặng dư và đẩy mạnh tích tụ tư bản.
4. Cấu tạo hữu cơ của tư bản.
- Trong quá trình tích lũy tư bản, cơ cấu tư
bản dần dần thay
đổi. Các bộ phận của tư bản có sự thay đổi
không giống nhau. Cấu
tạo của tư bản gồm có hai mặt: mặt vật chất
và mặt giá trị.
+ Cấu tạo của tư bản về mặt vật chất gồm có
tư liệu sản xuất và
sức lao động. Tỷ lệ giữa số lượng tư liệu
sản xuất và số lượng sức
lao động sử dụng tư liệu sản xuất đó gọi là
cấu tạo kỹ thuật của tư
bản.
+ Cấu tạo của tư bản về mặt giá trị gồm có
tư bản bất biến và tư
bản khả biến. Tỷ lệ giữa tư bản bất biến và
tư bản khả biến gọi là
cấu tạo giá trị của tư bản.
+ Cấu tạo kỹ thuật và cấu tạo giá trị có
quan hệ chặt chẽ với
nhau. Để chỉ mối quan hệ chặt chẽ đó, C.Mác
dùng khái niệm cấu
tạo hữu cơ của tư bản. Vậy cấu tạo hữu cơ
của tư bản là cấu tạo
giá trị của tư bản do cấu tạo kỹ thuật quy
định và phản ánh
những thay đổi của cấu tạo kỹ thuật.
Cấu tạo hữu cơ của tư bản thay đổi tùy theo
mức độ phát triển
của lực lượng sản xuất.
Ở giai đoạn công nghiệp hóa tư bản chủ nghĩa,
phát triển công
nghiệp cơ khí, cấu tạo hữu cơ của tư bản
tăng lên rất nhanh.
Nhưng hiện nay có nhiều ngành công nghiệp
sản xuất ra các máy
móc, thiết bị kỹ thuật mới rẻ hơn so với các
máy móc, thiết bị kỹ
thuật cũ mà chính nó thay thế, hoặc đang
phát triển ngành có cấu
tạo hữu cơ thấp như lĩnh vực dịch vụ. Vì
vậy, hiện nay xu hướng
tăng lên của cấu tạo hữu cơ của tư bản không
rõ rệt ở một số
ngành. Vấn đề này cần được nghiên cứu kỹ
hơn.
Câu 93. Thế nào là
tuần hoàn và chu chuyển của tư bản? Những nhân
tố nào làm tăng tốc
độ chu chuyển tư bản? Ý nghĩa thực tiễn của việc
1. Tuần hoàn của tư bản.
- Mọi tư bản sản xuất trong quá trình vận
động đều qua ba giai
đoạn, tồn tại dưới ba hình thức và thực hiện
ba chức năng.
Giai đoạn I, tư bản mang hình thức tiền tệ,
thực hiện chức năng
mua các yếu tố sản xuất tư liệu sản xuất và
sức lao động;
Giai đoạn II, tư bản mang hình thức tư bản
sản xuất, thực hiện
chức năng sản xuất ra hàng hóa và tạo ra giá
trị thặng dư;
Giai đoạn III, tư bản mang hình thức tư bản
hàng hóa với chức
năng thực hiện giá trị và giá trị thặng dư.
- Sự vận động của tư bản qua ba giai đoạn,
tồn tại dưới ba hình
thức, thực hiện ba chức năng, rồi quay về
hình thức xuất phát của
nó, gọi là tuần hoàn của tư bản.
2. Chu chuyển của tư bản.
Nếu được xem xét như là quá trình định kỳ
đổi mới diễn ra liên
tục, lắp đi lắp lại, thì sự tuần hoàn của tư
bản sản xuất được gọi là
chu chuyển của tư bản. Chu chuyển của tư bản
nói lên tốc độ vận
động của tư bản nhanh hay chậm.
- Nhân tố làm tăng tốc độ chu chuyển của tư
bản.
Nghiên cứu tốc độ chu chuyển của tư bản,
chúng ta cần nghiên
cứu thời gian chu chuyển của tư bản. Thời
gian chu chuyển của tư
bản là khoảng thời gian từ khi tư bản ứng ra
dưới một hình thức
nhất định đến khi nó trở về hình thức đó
nhưng có thêm giá trị
thặng dư. Như vậy, để chu chuyển một vòng,
tư bản phải trải qua
hai giai đoạn lưu thông và một giai đoạn sản
xuất. Do đó, muốn
tăng tốc độ chu chuyển của tư bản phải giảm
bớt thời gian lưu
thông và thời gian sản xuất của nó. Muốn
giảm bớt thời gian lưu
thông, phải có phương tiện giao thông vận
tải tốt, đầy đủ và thuận
tiện; đồng thời, các sản phẩm sản xuất ra
phải có giá trị sử dụng
cao, giá thành hạ, hợp thị hiếu người tiêu
dùng. Muốn giảm thời
gian sản xuất phải tăng năng suất lao động,
giảm thời gian gián
đoạn bằng cách ứng dụng khoa học kỹ thuật
v.v..
- Nghiên cứu chu chuyển của tư bản, cần hiểu
được việc chu
chuyển hai bộ phận giá trị của tư bản sản
xuất là tư bản cố định
và tư bản lưu động.
+ Tư bản cố định là bộ phận của tư bản sản
xuất (nhà xưởng,
thiết bị, máy móc) tham gia toàn bộ vào quá
trình sản xuất, nhưng
giá trị của nó được chuyển dần dần vào sản
phẩm. Tư bản cố định
sử dụng lâu dài và bị hao mòn dần. Có hai
loại hao mòn: hao mòn
hữu hình và hao mòn vô hình. Hao mòn hữu
hình là hao mòn về
giá trị sử dụng, do quá trình sử dụng và do
tác động của tự nhiên
mà bị hao mòn. Còn hao mòn vô hình là hao
mòn về giá trị do quá
trình hiện đại hóa của khoa học kỹ thuật,
nhiều máy móc mới được
sản xuất ra tốt hơn với giá rẻ hơn, làm cho
máy móc cũ đang được
sử dụng bị giảm giá trị ban đầu.
+ Tư bản lưu động là bộ phận của tư bản sản
xuất (nguyên liệu,
nhiên liệu, vật liệu phụ...) được tiêu dùng
hoàn toàn trong một chu
kỳ sản xuất và giá trị của nó được chuyển
toàn bộ vào sản phẩm.
- Nghiên cứu chu chuyển của tư bản là vấn đề
có ý nghĩa thực
tiễn trong việc sử dụng tiền vốn trong sản
xuất và kinh doanh hợp
lý, nhằm đạt hiệu quả kinh tế cao. Cần tăng
tốc độ chu chuyển tư
bản cố định, tận dụng tối đa công suất máy
móc, thiết bị. Phải đẩy
nhanh tốc độ xây dựng để đưa công trình vào
sản xuất càng sớm
càng tốt.
Câu 94. Thế nào là
lợi nhuận và tỷ suất lợi nhuận? Chúng có quan hệ
gì với giá trị
thặng dư và tỷ suất giá trị thặng dư?
1. Lợi nhuận và quan hệ giữa lợi nhuận với
giá trị thặng dư.
- Lợi nhuận:
Hao phí lao động thực tế của xã hội để sản
xuất hàng hóa là c +
v + m. Nếu gọi G là giá trị hàng hóa thì: G
= c+v+m.
Chi phí sản xuất tư bân chủ nghĩa là c+v.
Nếu ký hiệu chi phí
sản xuất tư bản chủ nghĩa là K thì:
Khi c +v chuyển thành K thì số tiền nhà tư
bản thu được trội
hơn so với chi phí sản xuất tư bản chủ
nghĩa. Số tiền trội hơn đó
được quan niệm là sự tăng lên của toàn bộ tư
bản ứng trước và gọi
là lợi nhuận, ký hiệu là P.
Nếu hàng hóa bán đúng giá trị thì G = K+m sẽ
chuyển hóa
thành G = K+P. Nhìn bề ngoài, tưởng như với lượng tư bản ứng
trước (c+v), nhà tư bản thu được lợi nhuận,
tức lợi nhuận là do
toàn bộ tư bản ứng trước tạo ra.
- Mới nhìn thì P=m, có khác nhau thì chỉ là
ở chỗ khi nói giá trị
thặng dư là hàm ý so sánh với tư bản khả
biến (v); còn khi nói lợi
nhuận lại hàm ý so sánh với tư bản ứng trước
(c+v).
Về thực chất, lợi nhuận là hình thức biến
tướng của giá trị
thặng dư. Lợi nhuận che dấu bản chất bóc lột
của chủ nghĩa tư
bản. Nguồn gốc của lợi nhuận chính là giá
trị thặng dư do lao động
sống của công nhân làm thuê tạo ra; lợi
nhuận là hình thức biểu
hiện của giá trị thặng dư.
Trong thực tế, nhiều trường hợp cụ thể, lợi
nhuận và giá trị
thặng dư có thể không trùng khớp với nhau.
Lợi nhuận có thể lớn
hơn hoặc nhỏ hơn giá trị thặng dư, do nó phụ
thuộc vào giá bán
của hàng hoá cao hoặc thấp do quan hệ cung —
cầu quy định.
Nhưng, xét trên phạm vi toàn xã hội, tổng số
lợi nhuận bằng tổng
số giá trị thặng dư.
2. Tỷ suất lợi nhuận và quan hệ giữa nó với
tỷ suất giá trị thặng
dư.
Tỷ suất lợi nhuận là tỷ lệ phần trăm giữa
giá trị thặng dư và
toàn bộ tư bản ứng trước, ký hiệu bằng p'
được xác định bằng công
thức:
+ Nếu xét về chất, p' nói lên mức độ doanh
lợi của tư bản đầu tư
và chỉ ra cho các nhà tư bản thấy đầu tư vào
ngành nào có lợi hơn.
Còn m' biểu hiện mức độ bóc lột của tư bản
đối với lao động làm
thuê.
Câu 95. Tư bản
thương nghiệp và tư bản cho vay được hình thành như
thế nào? Bản chất
của lợi nhuận thương nghiệp và lợi tức là gì?
- Tư bản thương nghiệp là một bộ phận tư bản
được tách ra khỏi
tư bản công nghiệp, hoạt động trong lĩnh vực
lưu thông hàng hóa.
Nó là cầu nối liền sản xuất và tiêu dùng,
phục vụ cho quá trình
thực hiện hàng hóa của tư bản công nghiệp và
có vai trò quan
trọng trong tái sản xuất tư bản xã hội nói
chung và tư bản công
nghiệp nói riêng. Tư bản thương nghiệp ứng
thêm tư bản giúp nhà
tư bản công nghiệp hoạt động trong khâu thực
hiện giá trị thặng
dư, do đó, tư bản công nghiệp không phải đầu
tư bổ sung tư bản,
hoặc giảm quy mô sản xuất để hoạt động lưu
thông mà có điều
kiện tập trung tư bản, chuyên môn hóa, mở
rộng sản xuất. Đó là
nguyên nhân khiến tư bản công nghiệp phải
"nhường" một bộ
phận giá trị thặng dư cho tư bản thương
nghiệp. Tư bản thương
nghiệp không tạo ra giá trị và giá trị thặng
dư, nhưng vẫn thu được
giá trị thặng dư dưới hình thức lợi nhuận
thương nghiệp.
Tư bản công nghiệp "nhường" một
phần giá trị thặng dư cho tư
bản thương nghiệp theo tỷ suất lợi nhuận
bình quân (p) và được
thực hiện bằng thu chênh lệch giữa giá mua
và giá bán. Vậy bản
chất lợi nhuận thương nghiệp là một phần giá
trị thặng dư do công
nhân tạo ra trong quá trình sản xuất.
Nhưng hình thức lợi nhuận thương nghiệp làm
cho người ta dễ
tin tưởng lưu thông sinh ra lợi nhuận và
nguồn gốc giá trị thặng
dư càng bị che dấu. Ngoài một phần giá trị
thặng dư do nhà tư bản
công nghiệp nhường cho,
tư bản thương nghiệp còn thu được
một
phần thu nhập của người tiêu dùng bằng cách
mua rẻ bán đắt và bóc
lột lao động thặng dư của nhân viên thương
nghiệp.
- Tư bản cho vay là một bộ phận của tư bản
công nghiệp tách ra
hoạt động trong lĩnh vực lưu thông tiền tệ.
Sự hình thành tư bản
cho vay là kết quả của sự phát triển quan hệ
hàng hóa - tiền tệ đạt
đến trình độ xuất hiện tư bản tiền tệ tạm
thời nhàn rỗi (các loại
quỹ khấu hao, quỹ mua nguyên vật liệu chưa
dùng đến, quỹ lương
chưa đến kỳ trả, tiết kiệm...) trong khi lại
có những người cần tư
bản để mở rộng sản xuất hoặc thiếu tư bản
lưu động... Tư bản cho
vay thực hiện vai trò môi giới giữa người
cho vay và người đi vay,
là nơi tập trung, điều hòa, sử dụng hợp lý,
có kết quả các nguồn
vốn tiền tệ của xã hội, thúc đẩy quá trình
tái sản xuất và quá
trình xã hội hóa.
Phải chú ý những đặc điểm đặc biệt của tư
bản cho vay: - quyền
sở hữu tách rời quyền sử dụng; người bán
không mất quyền sở hữu;
giá cả do giá trị sử dụng quyết định; quan
hệ bóc lột tư bản chủ
nghĩa bị che dấu.
Nếu không phải đi vay, tư bản công nghiệp
độc chiếm giá trị
thặng dư; nhưng do vay vốn nên nó phải
nhường một phần giá trị
thặng dư cho nhà tư bản cho vay vì đã sử
dụng tư bản của họ. Như
vậy, hoạt động trong lĩnh vực lưu thông tiền
tệ, tư bản cho vay
không tạo ra giá trị và giá trị thặng dư,
nhưng nó được phân phối
giá trị thặng dư dưới hình thức lợi tức cho
vay (Z). Vậy lợi tức
chính là hình thức biến tướng của giá trị
thặng dư, nguồn gốc của
nó là giá trị thặng dư do lao động làm thuê
tạo ra trong quá trình
sản xuất. Thực chất lợi tức cho vay biểu
hiện quan hệ bóc lột tư
bản chủ nghĩa mở rộng ra trong lĩnh vực phân
phối.
Xét về mặt lượng, lợi tức nói chung phải nhỏ
hơn lợi nhuận bình
quân (P) và lớn hơn 0: 0 < Z <P; và
phụ thuộc vào quan hệ cung
cầu trong lĩnh vực này ở từng thời kỳ.
Câu 96. Các hình
thức địa tô chủ yếu và bản chất của địa tô tư bản chủ
nghĩa (R) là gì? Ý
nghĩa của việc nghiên cứu địa tô đối với việc giải
Đặc điểm nổi bật của quan hệ sản xuất tư bản
chủ nghĩa trong
nông nghiệp là chế độ độc quyền ruộng đất.
Các yếu tố cần thiết
cho sản xuất nông nghiệp tư bản chủ nghĩa
thuộc ba chủ sở hữu
khác nhau (địa chủ độc quyền ruộng đất, tư
bản nông nghiệp sở
hữu các tư liệu sản xuất khác, như máy
móc..., còn công nhân
nông nghiệp sở hữu sức lao động).
Quan hệ xã hội đối với ruộng đất cũng bao
gồm ba giai cấp đó.
Tư bản kinh doanh nông nghiệp phải thuê
ruộng đất; thuê công
nhân để sản xuất, do đó, phải trích một phần
giá trị thặng dư cho
địa chủ dưới dạng địa tô. Bản chất của địa
tô tư bản chủ nghĩa khác
với địa tô phong kiến. Địa tô tư bản chủ
nghĩa là hình thức biến
tướng của giá trị thặng dư, là một phần giá
trị thặng dư do công
nhân nông nghiệp tạo ra mà nhà tư bản kinh
doanh nông nghiệp
phải trả cho địa chủ. Do sự tách rời quyền
sở hữu với quyền sử
dụng ruộng đất, giai cấp địa chủ, với tư
cách là người sở hữu, thu
địa tô, nhà tư bản là người kinh doanh ruộng
đất - người sử dụng
đất đai, thu được lợi nhuận.
Địa tô tư bản chủ nghĩa là bộ phận lợi nhuận
siêu ngạch ngoài số
lợi nhuận bình quân (P) của tư bản đầu tư
trong nông nghiệp do
công nhân nông nghiệp tạo ra và nộp cho địa
chủ. Có các hình thứ
- Địa tô chênh lệch (Rcl) là phần lợi nhuận
phụ thêm, ngoài lợi
nhuận bình quân, thu được trên ruộng đất có
điều kiện sản xuất
thuận lợi hơn (về độ màu mỡ và vị trí thuận
lợi). Đó chính là số
chênh lệch giữa giá cả sản xuất chung của
nông phẩm sản xuất
trên ruộng đất xấu nhất và giá cả sản xuất
cá biệt của nông phẩm
trên ruộng đất tốt và trung bình.
Địa tô chênh lệch Rcl được chia thành hai
loại:
+ Rcl I: là địa tô thu được trên ruộng đất
có độ màu mỡ tự nhiên
và vị trí thuận lợi hơn.
+ Rcl II: là địa tô thu được gắn liền với
đầu tư thêm tư bản cho
việc thâm canh tăng năng suất để thu lợi
nhuận siêu ngạch. Trong
thời gian hợp đồng thuê đất, Rcl II thuộc
nhà tư bản.
- Địa tô tuyệt đối là lợi nhuận siêu ngạch
ngoài lợi nhuận bình
quân () hình thành do cấu tạo hữu cơ () của
tư bản trong nông
nghiệp thấp hơn trong công nghiệp Psn =
(c+v+m) - (c+v+)... Địa
tô tuyệt đối gắn liền với sở hữu ruộng đất
nhất thiết phải nộp cho
địa chủ, dù ruộng đất đó thuộc loại xấu
nhất.
- Địa tô độc quyền thu được trên những khu
đất trồng được các
cây quý hiếm, hoặc có vị trí đặc biệt về
công nghiệp, thương mại,
dịch vụ.
Nghiên cứu địa tô tư bản chủ nghĩa, ngoài
mục đích vạch rõ quan
hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa trong nông
nghiệp, chúng ta còn rút ra
cơ sở lý luận để đề ra các đường lối, chính
sách đối với nông nghiệp
nhằm kích thích nông nghiệp phát triển, kết
hợp hài hòa các lợi ích
trong nông nghiệp cũng như giữa nông nghiệp
với các ngành khác.
Thí dụ, xây dựng chính sách thuế nông nghiệp
đúng đắn hợp lý
nhằm khai thác được mọi tiềm năng ở nông
thôn; tránh độc quyền
trong phân phối ruộng đất, tạo điều kiện cho
cạnh tranh trong nông
nghiệp và giữa nông nghiệp với các ngành sản
xuất khác; vận dụng
lý luận về địa tô chênh lệch để khuyến khích
mọi ruộng đất được
khai thác bảo đảm công bằng xã hội (Rcl I);
đề ra chính sách giao
quyền sử dụng ruộng đất lâu dài để khuyến
khích người nông dân
đầu tư thâm canh, cải tạo đất đai (Rcl
II)...
Câu 97. Thế nào là
công ty cổ phần và thị trường chứng khoán? Vai trò
của chúng trong nền
kinh tế hàng hóa?
Công ty cổ phần ra đời do lực lượng sản xuất
phát triển mạnh
mẽ, đó là hình thức tập trung vốn để mở rộng
sản xuất, giành lợi
thế trong cạnh tranh.
- Công ty cổ phần là loại xí nghiệp lớn mà
tư bản của nó được
hình thành từ sự liên kết nhiều tư bản cá
biệt và tiết kiệm của các
cá nhân bằng việc mua cổ phiếu.
+ Cổ phiếu là một thứ chứng khoán có giá ghi
nhận quyền sở
hữu và quyền hưởng một phần thu nhập của
công ty dưới hình
thức lợi tức cổ phần. Lợi tức cổ phần phụ
thuộc mức doanh lợi của
công ty cổ phần. Cổ phiếu mất giá trị khi
công ty bị phá sản.
+ Cổ đông là những người mua cổ phiếu. Cổ
đông được tham gia
đại hội cổ đông, bầu cử ban quản trị và
thông qua các quyết định
của công ty.
Trong chủ nghĩa tư bản, chỉ cần nắm được một
số cổ phiếu đáng
kể là đã khống chế, thao túng cả công ty.
+ Trái khoán là hình thức vay tiền do công
ty phát hành. Người
mua trái khoán hưởng lợi tức cố định và được
hoàn trả.
- Thị trường theo nghĩa thông thường là tổng
hợp các điều kiện
thực hiện hàng hóa; là tổng hợp các mối quan
hệ lưu thông hàng
hóa và lưu thông tiền tệ.
Thị trường chứng khoán hình thành trong nền
kinh tế thị
trường hay trong nền kinh tế hàng hóa đã
phát triển cao. Thị
trường chứng khoán là nơi giao dịch mua bán
các loại chứng
khoán (cổ phiếu, trái khoán, kỳ phiếu, văn
tự cầm cố và công trái).
Thị trường chứng khoán nhạy bén nhanh với
các biến động
trong đời sống, là "phong vũ biểu"
của nền kinh tế. Bởi vì, thị giá
cổ phiếu, giá cả các chứng khoán liên quan
đến tình hình kinh
doanh của các công ty, đến tỷ suất lợi tức
ngân hàng mà các chứng
khoán mang lại thu nhập cho người sở hữu nó.
Giá cả chứng
khoán tăng lên là biểu hiện của nền kinh tế
đang phát triển; nếu
ngược lại, là biểu hiện sự sa sút hay khủng
hoảng của nền kinh tế.
Trong chủ nghĩa tư bản, thị trường chứng
khoán trở thành lĩnh
vực đầu cơ làm giàu của những nhà tư bản
lớn.
Đối với nước ta, với chủ trương đẩy mạnh nền
kinh tế hàng hóa
nhiều thành phần, việc nghiên cứu và sử dụng
công ty cổ phần và
thị trường chứng khoán có vai trò rất quan
trọng.
Chúng có tác dụng:
- Là đòn bẩy để tập trung các nguồn vốn nhàn
rỗi trong mọi
tầng lớp nhân dân, trong các đơn vị tập thể
trong nước cũng như
ngoài nước.
- Kết hợp chặt chẽ các lợi ích kinh tế.
- Gắn vấn đề sở hữu với quyền sử dụng.
- Kết hợp sức mạnh của các hình thức sở hữu,
các thành phần
kinh tế.
- Tạo các mối liên kết và đa dạng hóa các
hình thức kinh tế.
- Huy động vốn đồng thời tăng tốc độ chu
chuyển đồng vốn và
giảm tiền mặt trong lưu thông.
Câu 98. Vì sao có
sự chuyển biến từ chủ nghĩa tư bản tự do cạnh tranh
sang chủ nghĩa tư
bản độc quyền? Các hình thức chủ yếu và bản
chất kinh tế của
chủ nghĩa tư bản độc quyền là gì?
Chủ nghĩa tư bản độc quyền là giai đoạn phát
triển cao của chủ
nghĩa tư bản. Nó xuất hiện vào cuối thế kỷă
XIX đầu thế kỷ XX, là
sự phát triển tất yếu từ chủ nghĩa tư bản tự
do cạnh tranh. Đó là
vì:
Một là, với sự phát triển của khoa học tự
nhiên, những phát
minh kỹ thuật được áp dụng làm cho lực lượng
sản xuất cuối thế
kỷ XIX có những bước nhảy vọt như phương
pháp luyện kim mới,
máy cắt gọt kim loại, những động cơ đốt
trong và những phương
tiện vận tải mới ra đời. Muốn sử dụng những
thành tựu nói trên
của khoa học - kỹ thuật, cần có nguồn vốn
lớn. Điều này đòi hỏi sự
tập trung tư bản và tập trung sản xuất.
Hai là, trong cuộc cạnh tranh khốc liệt, tư bản
vừa và nhỏ bị
phá sản hàng loạt, còn các nhà tư bản lớn
thì phát đạt, tư bản
được tập trung với quy mô ngày càng lớn.
Ba là, khủng hoảng kinh tế của thế giới tư
bản chủ nghĩa, đặc
biệt là cuộc khủng hoảng kinh tế năm 1873,
càng đẩy nhanh sự
tích tụ, tập trung tư bản và tập trung sản
xuất.
Sự tập trung sản xuất được thực hiện bằng
cách thôn tính lẫn
nhau giữa những xí nghiệp lớn và nhỏ và bằng
cách tự nguyện
thỏa thuận giữa các nhà tư bản.
Tích tụ và tập trung sản xuất đến mức độ nào
đó tất yếu dẫn
đến độc quyền, vì số ít các xí nghiệp lớn dễ
thỏa hiệp thống nhất
với nhau hơn là nhiều xí nghiệp nhỏ. Mặt
khác, sự cạnh tranh
giữa các xí nghiệp quy mô lớn sẽ gay gắt
hơn, đề ra khuynh hướng
thỏa hiệp để nắm độc quyền.
Mới đầu, các tổ chức độc quyền phát triển
trong một số ngành
nhất định; sau đó, theo mối liên hệ dây
chuyền, nó được mở rộng
ra các ngành khác, với các hình thức chủ
yếu:
+ Các-ten là loại liên minh độc quyền về giá
cả, thị trường; các
thành viên trong tổ chức độc quyền này vẫn
độc lập cả trong sản
+ Xanh-đi-ca là loại tổ chức độc quyền mà
các thành viên độc lập
về mặt sản xuất; ban quản trị đảm nhiệm việc
lưu thông.
+ Tờ-rớt là tổ chức độc quyền điều hành tập
trung. Các hoạt
động sản xuất, tiêu thụ sản phẩm đều do một
ban quản trị đảm
nhiệm. Các nhà tư bản tham gia tờ-rớt mất
hết quyền độc lập cả
trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm.
+ Công-xoóc-xi-om là tổ chớp độc quyền cao,
hỗn hợp những nhà
tư bản lớn, những xanh-đi-ca, tờ-rớt... kể
cả những ngành không
liên quan với nhau về kỹ thuật sản xuất. Tổ
chức độc quyền này
thống nhất về mặt tài chính và phụ thuộc vào
một nhóm tư bản
kếch xù.
+ Công-gơ-lô-mê-rát là tổ chức lũng đoạn
khổng lồ đặt dưới sự
kiểm soát về tài chính và quản lý chung của
một nhóm tư bản độc
quyền lớn nhất. Quy mô và phạm vi của nó
vượt ra cả ngoài biên
giới quốc gia.
- Bản chất kinh tế của chủ nghĩa tư bản độc
quyền:
Độc quyền ra đời từ tự do cạnh tranh, nó
loại bỏ sự thống trị của
tự do cạnh tranh. Nhưng độc quyền không thủ
tiêu được cạnh
tranh, mà ngược lại, cạnh tranh càng trở nên
gay gắt. Bản chất
kinh tế của chủ nghĩa tư bản độc quyền vẫn
dựa trên cơ sở chiếm
hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa về tư liệu sản
xuất. Quan hệ độc
quyền giữ vị trí thống trị trong nền kinh tế
với sự độc chiếm các
nguồn nguyên liệu, phương tiện vận tải, thị
trường vốn, nhân
công. Vẫn giá trị thặng dư là quy luật kinh
tế cơ bản, song biểu
hiện bề ngoài của nó đã chuyển từ quy luật
lợi nhuận thành quy
luật lợi nhuận độc quyền cao. Với sự thống
trị của độc quyền, mâu
thuẫn vốn có của chủ nghĩa tư bản càng thêm
sâu sắc.
Câu 99. Nguyên nhân
của sự chuyển biến chủ nghĩa tư bản thành chủ
nghĩa tư bản độc
quyền nhà nước? Đặc trưng, những hình thức biểu
hiện và cơ chế điều
tiết nền kinh tế của chủ nghĩa tư bản độc quyền
Chủ nghĩa tư bản độc quyền nhà nước là hình
thức phát triển
cao của chủ nghĩa tư bản độc quyền. Nó là sự
kết hợp sức mạnh
của các tổ chức độc quyền với sức mạnh nhà
nước thành một cơ chế
thống nhất bảo vệ lợi ích của giai cấp tư
bản độc quyền, duy trì và
củng cố chế độ tư bản chủ nghĩa.
Tiền đề khách quan cho chủ nghĩa tư bản độc
quyền nhà nước
ra đời là tích tụ tư bản và tập trung sản
xuất trong điều kiện
thống trị của các tổ chức độc quyền cùng với
những nguyên nhân
trực tiếp là hàng loạt mâu thuẫn bên trong
và bên ngoài của chủ
nghĩa đế quốc, đặc biệt là mâu thuẫn sâu sắc
giữa tính chất xã
hội hóa của sản xuất và sự chiếm hữu tư nhân
tư bản chủ nghĩa
về tư liệu sản xuất. Việc xã hội hóa cao của
lực lượng sản xuất do
quá trình tập trung, chuyên môn hóa, tổ hợp
liên hợp hóa nền
sản xuất xã hội cùng với những thành tựu mới
của tiến bộ khoa
học - kỹ thuật đã tạo nên một cơ cấu kinh tế
đồ sộ; nó đòi hỏi có
sự điều tiết xã hội đối với quá trình sản
xuất.
Mặt khác, cuộc cách mạng khoa học - kỹ thuật
đẩy nhanh quá
trình xã hội hóa lực lượng sản xuất, biến
đổi cơ cấu sản xuất. Điều
đó đòi hỏi lượng tư bản lớn để cải tạo cơ
cấu sản xuất, đổi mới tư
bản cố định, nghiên cứu, thực nghiệm, ứng
dụng thành tựu khoa
học - kỹ thuật, nhưng các tổ chức độc quyền
không tự giải quyết
nổi, cần có sự tham gia của nhà nước.
- Sự thu hẹp hệ thống thuộc địa của chủ
nghĩa đế quốc cùng với
sự ra đời của hệ thống đối lập là các nước
xã hội chủ nghĩa, buộc
bọn tư bản độc quyền phải nắm lấy nhà nước,
biến nhà nước thành
công cụ bảo vệ, phục vụ lợi ích của chủ
nghĩa tư bản độc quyền.
Với sự cải biến nào đó về hình thức quan hệ
sản xuất, nhưng
chủ nghĩa tư bản độc quyền nhà nước vẫn mang
những đặc trưng
cơ bản của phương thức sản xuất tư bản chủ
nghĩa; nó chỉ là sự
phát triển ở mức độ cao của chủ nghĩa tư bản
độc quyền với những
đặc trưng sau:
+ Nhà nước thực hiện chức năng điều tiết
kinh tế vĩ mô, lãnh
đạo đời sống kinh tế từ một trung tâm.
+ Nhà nước phục vụ toàn diện nhu cầu của tư
bản độc quyền;
ngược lại, tư bản độc quyền nắm và sử dụng
sức mạnh bộ máy nhà
nước bằng một hệ thống tác động qua lại phức
tạp giữa nhà nước
và các tổ chức độc quyền.
+ Nhà nước tham gia có mức độ việc điều
tiết, giới hạn sự tự do
hoạt động của tư bản, gắng điều hòa mâu
thuẫn và hậu quả tiêu
cực do thống trị của độc quyền sinh ra.
Những hình thức biểu hiện của chủ nghĩa tư
bản độc quyền nhà
nước:
+ Nhà nước là chủ kinh doanh, tức là hình
thành, phát triển sở
hữu nhà nước: sở hữu của độc quyền nhà nước
phục vụ lợi ích tư
bản độc quyền. Sở hữu nhà nước hình thành
bằng cách quốc hữu
hóa tư bản chủ nghĩa, đầu tư xây dựng mới,
góp cổ phần với tư bản
tư nhân... Nhà nước quốc hữu hóa để cứu tư
bản tư nhân khỏi phá
sản; đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng ít lợi nhuận, vốn lớn; đầu tư
nghiên cứu, ứng dụng khoa học - kỹ thuật...
+ Nhà nước thực hiện chính sách thu nhập: phân phối lại thu
nhập của các xí nghiệp nhà nước có lợi cho tư bản độc quyền. Với
"hệ thống bảo hiểm xã hội" nhà nước điều tiết các quan hệ
phân
phối, làm lợi cho các tổ chức độc quyền.
+ Nhà nước điều tiết nền kinh tế bằng việc sử dụng các hệ thống
tài chính, tín dụng, tạo thị trường, can thiệp vào quan hệ kinh tế
quốc tế.
Với sự xuất hiện của chủ nghĩa tư bản độc quyền nhà nước, cơ
chế điều tiết nền sản xuất xã hội có bước ngoặt lớn. Đó là sự kết
hợp hữu cơ giữa sự điều tiết của quan hệ thị trường với sự điều tiết
tập trung của nhà nước. Các tổ chức độc quyền điều tiết vi mô
bằng các kế hoạch trên cơ sở nghiên cứu kỹ lưỡng thị trường. Nhà
nước giữ vai trò điều tiết vĩ mô bằng việc dự báo, dự đoán và định
hướng từng thời kỳ, với các công cụ chương trình hóa kinh tế chính
sách cơ cấu và các hệ thống tài chính tín dụng, chính sách đầu tư...
Như vậy, cơ chế điều tiết nền kinh tế của chủ nghĩa tư bản độc
quyền nhà nước tạo ra sự phối hợp điều tiết hợp lý hơn tính tự
phát của cơ chế thị trường trong tự do cạnh tranh tư bản chủ nghĩa.
Câu 100.Phân tích điều kiện ra đời của sản
xuất hàng hóa và ưu thế của của sản xuất hàng hóa so với sản suất tự cấp tự
túc.Việc nghiên cứu vấn đề này có ý nghĩa như thế nào đới với thự tiễn phát
triển kinh tế hàng hóa ở Việt Nam?
Sản xuất hàng hóa là
kiểu tổ chức kinh tế mà trong đó sản phẩm được sản xuất ra không phải là để đáp
ứng nhu cầu tiêu dùng của chính người trực tiếp sản xuất ra nó mà là để đáp ứng
nhu cầu tiêu dùng của người khác, thông qua việc trao đổi, mua bán. Sản xuất
hàng hóa ra đời, tồn tại dựa trên hai điều kiện:
Thứ nhất: Phân công lao động xã hội. Phân công lao động xã hội là sự chuyên môn
hóa sản xuất, phân chia lao động xã hội ra thành các ngành, các lĩnh vực sản
xuất khác nhau.
Phân công lao động xã hội là cơ sở, là tiền đề của sản xuất hàng hóa. Phân công
lao động xã hội càng phát triển, thì sản xuất và trao đổi hàng hóa càng mở rộng
hơn, đa dạng hơn.
Thứ hai: Sự tách biệt tương đối về mặt kinh tế giữa những người sản xuất: những
người sản xuất trở thành những chủ thể có sự độc lập nhất định với nhau. Do đó
sản phẩm làm ra thuộc quyền sở hữu của các chủ thể kinh tế, người này muốn tiêu
dùng sản phẩm lao động của người khác cần phải thông qua trao đổi, mua bán hàng
hoá.
Hai điều kiện trên cho thấy, phân công lao động xã hội làm cho những người sản
xuất phụ thuộc vào nhau, còn sự tách biệt tương đối về mặt kinh tế giữa những
người sản xuất lại chia rẽ họ, làm cho họ độc lập với nhau. Đây là một mâu
thuẫn. Mâu thuẫn này được giải quyết thông qua trao đổi, mua bán sản phẩm của
nhau.
Đó là hai điều kiện cần và đủ của sản xuất hàng hóa. Thiếu một trong hai điều
kiện đó sẽ không có sản xuất hàng hóa.
Ưu thế của của sản xuất hàng hóa so với sản suất tự cấp tự túc
Thứ nhất: Sản xuất hàng hóa ra đời trên cơ sở của phân công lao động xã hội,
chuyên môn hóa sản xuất. Do đó, nó khai thác được những lợi thế về tự nhiên, xã
hội, kỹ thuật của từng người, từng cơ sở sản xuất cũng như từng vùng, từng địa
phương. Đồng thời, sự phát triển của sản xuất hàng hóa lại có tác động trở lại,
thúc đẩy sự phát triển của phân công lao động xã hội, làm cho chuyên môn hóa
lao động ngày càng tăng, mối liên hệ giữa các ngành, các vùng ngày càng trở nên
mở rộng, sâu sắc. Từ đó, nó phá vỡ tính tự cấp tự túc, bảo thủ, trì trệ, lạc
hậu của mỗi ngành, mỗi địa phương làm cho năng suất lao động xã hội tăng lên
nhanh chóng, nhu cầu của xã hội được đáp ứng đầy đủ hơn. Khi sản xuất và trao
đổi hàng hóa mở rộng giữa các quốc gia, thì nó còn khai thác được lợi thế của
các quốc gia với nhau.
Thứ hai: Trong nền sản xuất hàng hóa, quy mô sản xuất không còn bị giới hạn bởi
nhu cầu và nguồn lực mang tính hạn hẹp của mỗi cá nhân, gia đình, mỗi cơ sở,
mỗi vùng, mỗi địa phương, mà nó được mở rộng, dựa trên cơ sở nhu cầu và nguồn
lực của xã hội. Điều đó lại tạo điều kiện thuận lợi cho việc ứng dụng những
thành tựu khoa học - kỹ thuật vào sản xuất... thúc đẩy sản xuất phát triển.
Thứ ba: Trong nền sản xuất hàng hóa, sự tác động của quy luật vốn có của sản
xuất và trao đổi hàng hóa là quy luật giá trị, cung - cầu, cạnh tranh... buộc
người sản xuất hàng hóa phải luôn luôn năng động, nhạy bén, biết tính toán, cải
tiến kỹ thuật, hợp lý hoá sản xuất, nâng cao năng suất, chất lượng và hiệu quả
kinh tế, cải tiến hình thức, quy cách và chủng loại hàng hóa, làm cho chi phí
sản xuất hạ xuống đáp ứng nhu cầu, thị hiếu của người tiêu dùng ngày càng cao
hơn.
Thứ tư: Trong nền sản xuất hàng hóa, sự phát triển của sản xuất, sự mở rộng và
giao lưu kinh tế giữa các cá nhân, giữa các vùng, giữa các nước... không chỉ
làm cho đời sống vật chất mà cả đời sống văn hóa, tinh thần cũng được nâng cao
hơn, phong phú hơn, đa dạng hơn.
Tuy nhiên, bên cạnh mặt tích cực, sản xuất hàng hóa cũng có những mặt trái của
nó như phân hóa giàu - nghèo giữa những người sản xuất hàng hóa, tiềm ẩn những
khả năng khủng hoảng, phá hoại môi trường sinh thái, xã hội vân vân.
0 nhận xét:
Đăng nhận xét